“Bố cháu khóc cả buổi sáng ở văn phòng, nói cháu mua được nhà rồi lại không nhận người thân, bà cụ nằm viện không ai chăm… Tiểu Mãn, hay cháu đi thăm bà một chút? Dù sao cũng là bà nội.”
Tôi gấp lá thư lại, bỏ vào ngăn kéo.
“Dì giúp cháu chuyển cho bố một câu.”
“Nếu bố muốn kiện thì cháu theo tới cùng. Phán quyết cấp dưỡng năm đó cháu vẫn giữ. Khoản nào là nghĩa vụ của ai, cứ để người có thẩm quyền tính cho rõ.”
Dì Trương há miệng, cuối cùng chỉ thở dài rồi rời đi. Chiếc đồng hồ cổ trong cửa hàng tích tắc chạy. Tôi dán tiếp những nhãn chuyển phát còn sót lại, trong lòng hiểu màn kịch này có lẽ mới chỉ bắt đầu. Nhưng tôi không còn hoảng. Bà ngoại từng nói, đời người gặp kẻ không nói lý chẳng đáng sợ. Đáng sợ nhất là đầu gối mình mềm xuống trước. Ba ngày sau, chuyện thư luật sư vẫn không có động tĩnh gì.
Tôi tưởng bố và dì Triệu đã chịu yên, nhưng chiều ngày thứ tư, một vị khách không ngờ tới xuất hiện. Bà nội tôi. Bà già hơn rất nhiều so với ký ức. Tóc bạc trắng, những nếp nhăn trên mặt sâu như được khắc bằng d.a.o, lưng còng, tay trái chống cây gậy bằng gỗ táo tàu, tay phải xách một túi vải. Khi đẩy cửa, chuông vang lên. Bà đứng ở cửa nheo mắt nhìn quanh, cuối cùng ánh mắt dừng trên mặt tôi.
“Tiểu Mãn?”
Tôi nhận ra đôi mắt ấy. Giống bố. Hốc mắt sâu, con ngươi màu nhạt. Năm tôi còn nhỏ, khi bà ném cặp sách của tôi ra khỏi nhà, đôi mắt ấy từng mở trừng trừng, miệng quát:
“Đồ con gái tốn cơm tốn của, cút ngay!”
Bây giờ chúng lại ướt nhòe.
“Bà nội.”
Tôi gọi một tiếng nhưng không bước tới. Bà chống gậy chậm rãi đi vào, đặt túi vải lên quầy.
“Bà mang cho con ít đồ.”
Tay bà hơi run khi kéo khóa. Bên trong là một chồng album cũ, một hộp b.út bằng sắt và một chiếc áo vải xanh được gấp ngay ngắn.
“Áo của bà ngoại con. Năm đó bà ấy để lại chỗ bà.”
Tôi nhìn chiếc áo. Cổ áo đã sờn, cúc áo là loại cúc vải được khâu bằng tay. Sau khi bà ngoại mất, tôi từng lục khắp căn nhà cũ mà không tìm thấy. Hóa ra nó ở chỗ bà nội. Bà ngồi xuống chiếc ghế nhựa cạnh kệ hàng rồi chậm rãi nói:
“Đợt trước bà đúng là vào viện mấy ngày vì bị ngã, nhưng tin nhắn ép con phải tới không phải do bà gửi. Bà cũng không bảo bố con lấy chuyện ấy ra dọa.”
Tôi không nói gì. Bà thở dài.
“Bố con không hiểu chuyện. Hôm nó tới gây chuyện, bà không biết. Sau này nghe người ta kể, bà mắng nó một trận.”
Bà lấy khăn lau khóe mắt.
“Tiểu Mãn, năm đó bà làm không đúng.”
“Không phải vì bà ghét con. Mẹ con đi rồi, bố con lại chẳng nên thân, bà vừa giận vừa sốt ruột, rồi trút hết bực bội lên một đứa trẻ.”
Bà khựng lại.
“Có nói thế nào cũng là bà sai. Câu bà mắng con năm ấy, bà nhớ suốt.”
Tôi rót cho bà một cốc nước ấm.
“Hôm nay bà tới là muốn cháu trở về?”
Bà lắc đầu. Rồi lấy trong túi ra một phong bì.
“Đây là 20.000 tệ, tiền bà để dành.”
“Bố con muốn kiện, bà không cho. Nó còn đem căn nhà trong ảnh ra nói với bà, nhưng bà hỏi kỹ mới biết căn ấy mới chỉ là căn nó với dì Triệu đi xem, đến hợp đồng cũng chưa ký. Một căn nhà còn chưa mua mà đã mang tới trước mặt con nói như thể đang ban ơn, bà nghe xong cũng thấy mất mặt.”
Cuối cùng mắt tôi mới động nhẹ. Khoảng trống trong câu chuyện mấy hôm nay bỗng có lời giải. Bà đẩy phong bì về phía tôi.
“Bà ngoại con nuôi con lớn không dễ dàng. Bà chẳng giúp được gì, bây giờ cũng không còn mặt mũi bắt con nuôi.”
“Căn nhà con cứ giữ. Bà không cần.”
Bà im lặng rất lâu mới nói tiếp:
“Chỉ là… nếu con không quá khó chịu, thỉnh thoảng tới thăm bà được không? Bà sống một mình, chân cẳng bất tiện, nhiều lúc chỉ muốn có người nói vài câu.”
Ngoài cửa, trời dần tối. Đèn đường vừa sáng, ánh vàng chiếu lên mái tóc bạc của bà. Tôi nhìn những đốm đồi mồi trên mu bàn tay ấy, bất giác nhớ bà ngoại trước khi mất cũng từng ngồi bên giường, nắm tay tôi nói:
“Mãn Mãn, dù chỉ có một mình cũng phải ăn cơm cho t.ử tế.”
Tối hôm ấy, tôi không nhận 20.000 tệ, nhưng giữ lại chiếc áo vải xanh. Khi tiễn bà ra cửa, bà đi rất chậm. Tôi do dự một lúc rồi đưa tay đỡ cánh tay bà. Cơ thể bà khựng lại. Ngay sau đó, bàn tay thô ráp như vỏ cây lập tức nắm lấy tay tôi. Tôi vẫn chưa thể tha thứ. Nhưng cũng không muốn một bà lão hơn tám mươi tuổi tự chống gậy xuống những bậc thềm trơn.
“Cuối tuần sau cháu tới thăm bà.”
Bà quay lại. Nước mắt rơi nhưng khóe môi lại cong lên.
“Được, được. Bà gói sủi cảo cho con. Hồi nhỏ con thích nhất nhân hẹ trứng.”
Tôi nhìn bà lên taxi, đèn hậu dần biến mất ở góc đường. Trong gió đêm, mùi hoa quế càng đậm. Tôi lấy điện thoại nhắn vào số của bà ngoại.
“Bà ngoại, hôm nay có người xin lỗi con.”
“Con chưa tha thứ.”
“ Nhưng hình như cũng không còn hận như trước.”
“Bà nói đúng, nhìn về phía trước thì đường sẽ rộng.”
Màn hình tối đi. Tôi trở vào cửa hàng, gấp chiếc áo vải xanh bỏ vào hộp sắt cùng những tờ phiếu chuyển tiền. Lọ củ cải khô trên kệ còn nửa lọ. Nhớ bà nội nhắc tới sủi cảo hẹ trứng, tôi bỗng thấy đói. Đường còn dài. Cứ từ từ mà sống. Sáu giờ sáng thứ Bảy, lần đầu tiên tôi đóng cửa hàng nửa ngày.