Rất lâu sau, tiếng động cơ xe bán tải mới vang lên. Âm thanh ấy mỗi lúc một xa, cuối cùng chỉ còn tiếng lá lê cọ vào nhau xào xạc. Tôi cố gọi mẹ, nhưng trong cổ họng chỉ bật ra những tiếng “a” vụn vỡ. 3. Mặt trời vừa lặn, núi rừng đã nhanh chóng tối đen. Tôi quấn chiếc áo bông bố để lại, chui vào giữa hai gốc lê già.
Trong bụi cỏ liên tục có thứ gì đó bò qua. Chỉ cần một cành khô bất chợt gãy, tôi đã run lên bần bật. Ban đêm ở thành phố vẫn nghe thấy tiếng người nói chuyện dưới tòa nhà, còn có ánh đèn đường len qua khe rèm. Ở đây, chẳng nhìn thấy gì cả. Tôi không dám nhắm mắt, bụng lại đói đến đau từng cơn. Lời mẹ vang lên trong đầu.
“Đói thì tự hái lê ăn.”
Tôi lần được một cành cây thấp, kiễng chân kéo xuống một quả lê nhỏ cứng ngắc. Vỏ lê bám bụi, tôi dùng mặt trong áo lau rất lâu rồi mới cắn một miếng nhỏ. Lê chưa chín hẳn, chua đến tê cả chân răng, nhưng bên trong vẫn có chút nước ngọt. Tôi vừa ăn vừa rơi nước mắt. Tiếng khóc vừa bật ra, tôi đã lập tức bịt miệng. Cô ruột nói trẻ con hay khóc là đáng ghét nhất.
Tôi đã bị vứt bỏ rồi, không thể để những thứ kỳ quái trong núi cũng ghét mình nữa. Trời sáng, tôi đi tìm nước. Men theo những chỗ đất trũng rất lâu, cuối cùng tôi cũng thấy một dòng nước nhỏ chảy ra từ khe đá. Tôi nằm sấp bên cạnh uống, nước lạnh đến mức dạ dày co thắt. Ban ngày, tôi hái những quả lê chín hơn một chút, trải chiếc áo bông lên đá phơi nắng.
Ban đêm, tôi rúc vào trong áo, trốn sau một thân cây đổ. Những lúc trời mưa, áo bông nhanh chóng ướt sũng. Tôi lạnh đến hai hàm răng va vào nhau, chỉ biết liên tục xoa tay. Có lần, tôi trèo lên cây với quả lê vàng trên cao, giẫm gãy một cành khô. Đầu gối va vào đá, m//áu lập tức thấm qua ống quần. Tôi ngồi trong bùn đợi rất lâu, chẳng có ai đến đỡ.
Sau đó, tôi tự đứng lên, dùng nước suối rửa vết thương, lại kéo lê chiếc áo trở về dưới gốc cây. Mỗi ngày, tôi đều khắc một vạch lên thân cây. Vạch đầu tiên rất thẳng, những vạch sau càng lúc càng xiêu vẹo. Đến lần mặt trời mọc thứ mười lăm, những quả lê chín ở cành thấp gần như đã bị tôi hái hết. Tôi bắt đầu ăn lê xanh, ăn xong lại nôn ra nước chua. Đêm thứ hai mươi ba, trời mưa rất lớn.
Tôi ôm chiếc áo bông ướt, cảm thấy trên người chẳng còn chút hơi ấm. Đến lần mặt trời mọc thứ hai mươi chín, tôi chỉ cắn được vài miếng lê rồi không thể ăn thêm. Tựa vào gốc cây, tôi mơ hồ thấy mẹ đưa tay về phía mình, em trai ngồi trong lòng mẹ cười. Tôi nghĩ, số mệnh mà bố nói có lẽ đã đến tìm tôi rồi. 4. Ngoài đám cỏ dại bỗng vang lên tiếng bước chân.
Tiếng chân lúc đi lúc dừng, như đang tránh mặt ai. Tôi khó nhọc mở mắt, thấy một thiếu niên trèo qua hàng rào đổ nát. Anh đeo chiếc bao tải dệt cũ, tay cầm cây sào tre buộc móc sắt, chuyên chọn những quả lê to nhất trên cây để móc xuống. Anh rất gầy, mặc chiếc áo khoác đã giặt bạc màu, đôi giày cao su dưới chân cũng rách một chỗ.
Hái được nửa bao lê, anh đang định đi thì bỗng thấy chiếc áo bông lộ ra dưới gốc cây. Chúng tôi nhìn nhau qua đám cỏ. Anh giật mình lùi một bước, giơ cây sào lên: “Ai đấy?” Tôi rụt vào trong áo. Anh không đi, một lúc sau mới tiến lại gần. Anh dùng sào gạt cỏ, vừa nhìn rõ mặt tôi đã lập tức ném cây sào xuống đất.
“Em là con nhà ai?”
Tôi ôm chặt nửa quả lê đã thâm đen trong tay, không lên tiếng.
“Người lớn nhà em đâu?”
Tôi vẫn không nói. Anh ngồi xổm xuống, nhìn thấy đống lõi lê bên cạnh cùng những vạch khắc trên thân cây, sắc mặt liền thay đổi. Anh chọn trong bao một quả lê chín vàng, chà vào tay áo cho sạch rồi đặt trước mặt tôi.
“Vứt quả hỏng kia đi, ăn quả này.”
Tôi nhìn quả lê, rồi nhìn mắt anh. Trong đó có sự cảnh giác, có cả sốt ruột, nhưng không có vẻ chán ghét như khi bố nhìn tôi. Tôi nhanh chóng cầm lấy quả lê, cắn từng miếng lớn. Nước lê chảy dọc cằm xuống cổ áo, tôi chẳng nỡ lau, đến cả phần thịt cứng cạnh lõi cũng gặm sạch. Anh đợi tôi ăn hết mới hỏi: “Nhà em ở đâu?” Tôi lắc đầu.
“Anh đưa em về.”
“Không… về.”
Anh sững người. Tôi khó nhọc nói hết câu: “Bố, mẹ, không cần em.”
“Em bị… tự kỷ, tốn tiền.”
Anh cúi đầu nhìn gốc cây, rất lâu không nói. Trời lại tối dần. Anh buộc miệng bao tải, đeo ra trước ngực, quay lưng ngồi xổm trước mặt tôi.
“Lên đi.”
Tôi không nhúc nhích.
“Chỗ anh ở tồi tàn, nhưng dù sao cũng tốt hơn ở đây.”
Anh nghiêng mặt giục tôi: “Mau lên, trời tối rồi khó nhìn đường núi lắm.” Tôi nằm lên lưng anh. Xương bả vai anh cấn vào người tôi đau, nhưng người anh rất ấm. Anh một tay đỡ tôi, tay kia chống sào tre, từng bước đi ra khỏi vườn lê. 5. Trên đường xuống núi, anh nói mình tên Tống Dã, vừa tròn mười tám tuổi. Hồi nhỏ, anh bị người ta bỏ ở đầu làng. Ông cụ nuôi anh cũng đã qua đời từ năm ngoái.
Trong làng có người mắng anh là đồ con hoang, anh bèn lấy luôn chữ “Dã” đặt tên cho mình.
“Em tên gì?”