Tôi vùi mặt vào vai anh, không chịu trả lời. Tôi sợ nói ra tên Lâm Niệm Niệm, anh sẽ đưa tôi trở về ngôi nhà ấy. Tống Dã đợi một lúc, bỗng nói: “Cũng phải, người đã vứt con trong núi thì dù đặt tên cho con cũng chẳng xứng gọi cái tên ấy.” Anh nghĩ ngợi, vỗ nhẹ vào bao lê đeo trước ngực.
“Anh nhặt được em trong vườn lê, sau này gọi em là Tiểu Lê, được không?”
Tôi khẽ lặp lại: “Tiểu… Lê.”
“Hay đấy, ít nhất cũng không nói lắp.”
Nói xong, anh bật cười, bước chân rõ ràng nhẹ nhõm hơn nhiều. Tống Dã sống trong một căn chòi canh rừng bỏ hoang dưới chân núi. Mái chòi phủ bạt nhựa, các khe tường nhét đầy báo cũ, bên trong chỉ có một chiếc giường ván và một chiếc bàn thiếu chân. Anh đặt tôi lên giường rồi chạy ra ngoài ôm củi. Nhóm lửa xong, anh dùng chiếc nồi nhôm cũ đun nước, lại moi từ hốc gạch ra hai củ khoai lang.
Khoai nướng chín nứt vỏ, mùi thơm ngọt lan khắp căn chòi. Đây là lần đầu tiên tôi được ăn đồ nóng kể từ khi bố mẹ bỏ đi. Tôi nóng đến mức liên tục hít hà, nhưng vẫn hết miếng này đến miếng khác nhét vào miệng. Tống Dã bẻ nửa củ khoai của mình cho tôi: “Ăn chậm thôi, không ai giành với em đâu.” Ăn xong, anh nhúng khăn vào nước lau mặt cho tôi.
Những vết nứt do cóng chạm phải nước, đau đến mức tôi rụt lại. Anh lập tức dừng tay: “Đau thì nói, cố nhịn làm gì?” Tôi không biết trả lời thế nào. Trước đây, khi tôi kêu đau, bố chỉ bảo tôi lắm chuyện. Tống Dã dùng lược gỡ từng chút tóc rối cho tôi. Chỗ nào không gỡ được, anh cắt bỏ lọn nhỏ ấy. Đêm đến, chúng tôi nằm chen nhau trên chiếc giường ván.
Anh đắp chiếc chăn bông cũ duy nhất lên người tôi, còn mình quấn chiếc áo bông ướt kia. Gió lùa qua khe tường, tôi vô thức nhích lại gần anh. Tống Dã cứng người một lát, rồi đưa tay kéo cả tôi lẫn chăn vào lòng. Nghe nhịp tim anh, tôi nhanh chóng ngủ thiếp đi. Đó là lần đầu tiên trong suốt một tháng, tôi không bị lạnh đến tỉnh giấc. 6. Từ hôm ấy, tôi sống cùng Tống Dã.
Mỗi tháng, làng đều cho anh một bao gạo, một can dầu và vài bó mì khô. Trước đây, một mình anh ăn còn tạm đủ. Có thêm tôi, hũ gạo nhanh chóng thấy đáy. Sợ mình lại trở thành gánh nặng, ngày nào tôi cũng đến vườn lê nhặt quả rụng. Tống Dã phát hiện túi áo tôi nhét đầy lê xanh, giận đến mức móc hết ra.
“Em quên mình đã nôn thế nào rồi à?”
Anh cắt lê thành miếng nhỏ, cho vào nồi nấu mềm, còn rắc thêm chút đường trắng vốn chẳng nỡ dùng.
“Sau này chỉ được ăn lê đã nấu chín.”
Tôi ôm bát nước lê nóng cười. Thấy tôi thiếu một chiếc răng cửa, anh cũng bật cười. Tống Dã đi đâu cũng dẫn tôi theo. Chúng tôi lên thị trấn nhặt thùng giấy, ra bãi sông tìm trứng vịt, đến cửa sau quán ăn thu gom chai rỗng. Lũ trẻ trong làng gọi anh là thằng ăn mày lớn, gọi tôi là con câm nhỏ, không cho chúng tôi đến gần trạm rác. Tống Dã bịt tai tôi, dẫn tôi ra ven đường cái xa hơn.
Hôm may mắn, chúng tôi bán được hơn mười tệ. Hôm kém may, bữa tối chỉ có hai bát nước lê. Trước khi vào đông, anh phát hiện rất nhiều cục than đen trên con đường cũ xe tải thường đi qua. Anh nhặt một cục lên, nhấc thử trong tay, mắt sáng lên: “Thứ này đáng tiền hơn chai lọ.” Chúng tôi cõng về một sọt. Các thím trong làng đem trứng và gạo đổi với chúng tôi.
Tối hôm ấy, Tống Dã nấu cơm, xào một đĩa trứng với tỏi dại, còn làm trứng hấp cho tôi. Tôi ăn đến bụng căng tròn, tựa vào tường chẳng muốn nhúc nhích. Khi trận tuyết đầu mùa rơi xuống, anh chuyển hết thùng giấy và than vào chòi. Lửa cháy rất đượm. Anh cầm cành cây tính chi phí đi học của tôi trên mặt đất.
“Sách vở, đồng phục, tiền ăn, cộng lại phải hơn một nghìn tệ.”
“Đợi mình dành dụm đủ một xe than, anh sẽ cho em đi học.”
Tôi mở to mắt: “Em, cũng được ạ?”
“Tất nhiên là được.”
Tống Dã lấy tro than chấm lên chóp mũi tôi: “Chưa nói được thì cứ nói từng chữ một, thầy cô sẽ không đuổi em chỉ vì em nói chậm đâu.” Mỗi khi vui, anh lại ngân nga một bài hát thiếu nhi lạc điệu. Lời đã bị anh hát loạn hết cả, chỉ còn nhận ra được giai điệu. Tôi quấn chăn lắng nghe, thấy còn hay hơn những bài hát trên ti vi. 7. Tuyết rơi suốt đêm, phủ kín con đường ngoài cửa.
Tống Dã đeo chiếc sọt tre lớn nhất lên lưng, trước khi đi vẫn nhẩm: “Trời càng lạnh, than càng dễ bán.”
“Bán được tiền, anh mua giày bông cho em, rồi đổi một chiếc chăn dày.”
Tôi níu vạt áo anh, không muốn anh đi. Từ sáng, mí mắt phải của tôi đã giật liên tục, ngực cũng nặng trĩu. Tống Dã tưởng tôi sợ ở một mình, bèn thêm củi cho lửa cháy đượm, còn để lại nửa nồi nước lê.
“Anh nhặt đầy một sọt sẽ về.”
Bóng anh nhanh chóng khuất trong gió tuyết. Tôi ở trong chòi xếp bìa giấy. Đợi đến trưa, nước lê trong nồi đã nguội ngắt mà anh vẫn chưa về. Bên ngoài bỗng có người gọi tên Tống Dã. Tôi chạy ra, thấy mấy người dân làng khiêng một tấm ván cửa vội vã đi về phía này. Tống Dã nằm trên đó, ống quần thấm đẫm m//áu, mặt đầy bụi than. Đầu óc tôi trống rỗng, lao tới nắm lấy tay anh.